1. Công chúa Huyền Trân
Công chúa Huyền Trân là con gái yêu của Thái thượng hoàng Nai lưng Nhân Tông và là em gái vua Trằn Anh Tông. Huyền Trân chào đời trong khung cảnh đất nước mới trải qua cơn binh biến hung ác do nạn ngoại xâm. Giặc Nguyên thất bại thảm hại khi 3 lần rắp tâm thôn tính Đại Việt không thành, nhưng vẫn mua cách thức báo thù. Đa dạng lần nhà Nguyên cho sứ sang hoạnh họe, hạch sách, dọa ăn hiếp.
Do vậy, triều đình ngày đêm lo ngại đối phó với kẻ thù. Phía Tây và phía Nam nhiều lần bị giặc quấy rối làm cho quần chúng. # điêu đứng, lầm than. Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã đến nhiều nơi để hoằng pháp giáo lý. Ngài từng tới cả Chiêm Thành tỏ tình hòa hảo, được vua Chiêm Chế Mân và các vị tu hành ở đây cực kì cảm phục.
Qua bảy, tám tháng sống ở đất Chiêm, Thượng hoàng ngày một yêu mến mảnh đất này, vốn là nơi có nền văn hóa cổ hủ sơ, người dân lại có tài xây dựng đền đài chùa tháp. Đồng thời, người muốn xóa đi mối hận thù, tự ti Chiêm – Việt trong khoảng bao đời nên hứa hẹn gả con gái yêu Huyền Trân cho Chế nhạo Mân. Thái thượng hoàng hứa sau 4 năm sau khi công chúa đủ 18 tuổi thì sẽ cho Dè bỉu Mân mang sính lễ sang cầu hôn.

Ảnh: Minh họa
Trở về nước, vua Trằn Nhân Tông kể về chuyến du hành phương Nam và ông vua trẻ Dè bỉu Mân văn võ song toàn cho con gái Huyền Trân. Người bảo Huyền Trân giơ bàn tay lên và nói: “Con có thấy trên bàn tay con có hình bóng của phụ hoàng và Thái Hậu không? Trên bàn tay con không những có ta, có mẹ con mà còn có cả giống nòi quốc gia”. Câu nói đầy ý nghĩa ấy khiến cho Công chúa Huyền Trân nắm bắt được trọng trách mà Phụ hoàng uỷ thác trên đôi vai nhỏ xíu của mình.
Tháng sáu năm Bính Ngọ (1306) lễ rước dâu được cử hành trang trọng. Huyền Trân vái lạy Phụ hoàng, Thái hậu cùng vua Anh Tông lên kiệu hoa về nhà chồng ở phương Nam xa lạ. Nhạo báng Mân cho mở hội 3 ngày cả nước đón mừng cô dâu. Đây cũng là ngày lễ đăng quang quẻ Hậu phi, còn cho khắc bia đá ghi sự kiện lịch sử này.
Sống trên đất Chăm, Thê thiếp Huyền Trân được vua mếm mộ cho đi du hành, vãn cảnh, đồng thời tìm hiểu cuộc sống, tình cảnh của dân. Những thực tiễn đói khát, khó nhọc, bệnh tật nơi thôn dã khiến cho Thê thiếp không vui. Bà tâu bày với vua thân mật đến dân, chỉ ra những tồn tại yếu kém của bộ máy quan lại nhũng nhiễu dân cần được khắc phục.
Nhạo báng Mân cảm phục tấm lòng trong khoảng bi, bác bỏ ái của Huyền Trân nên đã có những chỉnh đốn để gần dân hơn. Thế nhưng chỉ sau gần một năm nghĩa tình đậm đà, khói hương mặn nồng, vua Chiêm bị giết hại. Huyền Trân biến thành góa bụa. Theo lệ người Chăm khi vua mất, Bà xã, cung phi phải lên giàn hỏa chết theo. Việc này sẽ tới với Huyền Trân ngay sau khi bà sinh con.

Ảnh: Minh họa
Sợ em gái bị tổn thương, È Anh Tông sai È Khắc Thông thường đến Chiêm Thành cứu Huyền Trân về. Trần Khắc Phổ biến vờ sang viếng tang, sắm cách cứu Huyền Trân. Bày kế thành công, Khắc Thông thường đã cứu được Huyền Trân đưa xuống thuyền về Đại Việt bằng con đường đại dương. Còn Huyền Trân thì như xác không hồn, khi tỉnh mới rõ cơ sự. Tháng 8 năm Mậu Thân (1308), công chúa Huyền Trân về đến Thăng Long. Theo di mệnh của Thái thượng hoàng, công chúa xuống tóc ở núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh) vào năm (1309) và được ban pháp danh “Hương Tràng”.
Cuối năm Tân Hợi (1311), Hương Tràng cùng một thị nữ quy y đến làng Hổ Sơn, huyện Thiên Phiên bản (nay thuộc Nam Định), lập am dưới chân núi Hổ để tu hành. Sau đó, am tranh trở thành điện Phật, tức chùa Nộm Sơn hay còn gọi là Quảng Nghiêm Tự. Thương chúng sinh, giúp người cơ nhỡ, để lại tiếng thơm trên quê hương Nam Định, khi bà mất, dân trong thôn còn tạc tượng tôn thờ.
2. Công chúa An Tư
An Tư công chúa là một trong 2 vị công chúa nhiều người biết đến nhất lịch sử nhà Trần vì các cuộc hôn nhân mang tính trọng đại, cùng với Huyền Trân công chúa. Công chúa An Tư Là con gái vua Trần Thái Tông, em gái út của vua Trằn Thánh Tông. Công chúa An Tư liễu yếu đào tơ, bất đắc dĩ biến thành người đẹp “mỹ nhân kế” dưới trướng Trấn Nam Vương Thoát Hoan, nam nhi của Hốt Tất Liệt.
Tuy công chúa An Tư đã có công lớn góp vào thắng lợi bình thường của cả dân tộc, nhưng sử sách ghi chép rất sơ sài về thế cục bà. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chỉ viết vẻn vẹn: “Sai người đưa công chúa An Tư (em gái út của Thánh Tông) đến cho Thoát Hoan, là muốn làm thư giãn loàn nước vậy“.
Tháng Chạp năm Ất Dậu (1285), hơn nửa triệu quân cội nguồn Thoát Hoan cầm đầu, tràn sang xâm lăng nước ta lần thứ hai. Khi giặc áp sát kinh kì Thăng Long, tình hình trở nên cực kì bít tất tay, nhiều hoàng tộc nhà Trần như: Trần Kiện, Trằn Lộng và hoàng thân Trần ích Tắc đã đem toàn cục gia quyến, liêu thuộc đi đầu hàng.

Ảnh: Minh họa
È Khắc Bình thường được sai đi sứ để giảng hòa, làm cho chậm rãi vận tốc hành binh của giặc nhưng không có kết quả. Nhằm tận dụng thời gian củng cố nhóm, vua Trần Thánh Tông không còn phương pháp nào khác, phải sử dụng đến kế mỹ nhân, tức sai dâng em gái út cho Trấn Nam Vương Thoát Hoan để tạm thời cầu hòa.
Làm theo lệnh vua và vì an nguy của thị trấn tắc, công chúa An Tư đã từ rời khỏi cuộc chơi sống ấm êm, nhung lụa trong cung đình, vĩnh biệt đồng chí để hiến dâng tuổi xanh, kể cả tính mệnh để làm nội gián cho triều È. Tháng 3 năm 1285, An Tư vào dinh Thoát Hoan (ở bờ bắc sông Hồng). Ở trại giặc, công chúa đã sống như thế nào, khiến cho được những gì, không ai nhân thức. Song, một vấn đề rõ rằng, bà đã phải lặng lẽ nuốt nhục, mến thương đại trượng phu của Hốt Tất Liệt.
Đúng là “Anh hùng khó qua ải mỹ nhân”. Vì quá đắm đuối mê An Tư, Thoát Hoan rơi vào ma trận tình cảm, đã quên cả việc tiến công Thăng Long, tạo cơ hội quý giá cho quân nhà Trằn có thể rút lui một cách bình an. Tới bốn tuần Tư cùng năm, quân Đại Việt phản công khốc liệt ở hầu khắp các mặt trận khiến cho quân Nguyên đại bại. Riêng Thoát Hoan phải chui tham gia ống đồng trốn qua biên cương.
Số phận công chúa An Tư vẫn còn là một bí mật. Trong cuốn “An Nam chí lược” của Lê Tắc có ghi: “Trước, Thái tử (chỉ Thoát Hoan) lấy người con gái nhà Trằn sinh được nhì con”. Người con gái họ Nai lưng này có thể là công chúa An Tư, tuy nhiên chưa có chứng cớ rõ ràng khẳng định điều này. Sau thành công, các vua È khiến lễ tế lăng miếu đánh giá tốt thưởng công thần, truy phong tướng soái, nhưng không người nào nhắc tới An Tư. Thế nhưng, Dù triều È và sử sách có quên nàng thì các thế hệ đời sau vẫn bỏ ra cho nàng sự kính trọng, yêu thương…
3. Công chúa Ngọc Hân
Công chúa Lê Ngọc Hân sinh ngày 27 04 tuần 4 năm Canh Dần (1770) tại kinh thành Thăng Long. Bà là con gái thứ 9 của vua Lê Hiển Tông. Mối tình Ngọc Hân – Quang đãng Trung bấy lâu vẫn được xem là một mối tình đẹp: Trai nhân vật, gái thuyền quyên. Mối tình ấy có nguyên nhân từ những tình tiết lịch sử chính trị dồn dập.
Nửa cuối thế kỷ 18, ở nhị miền Nam – Bắc nước ta, hai nhà Trịnh – Nguyễn sau 7 lần chiến tranh thôn tính nhau không thành đều sức cùng lực kiệt. Giữa lúc đó, anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ nổi lên như một thế lực ở đất Tây Sơn và nhanh chóng lật đổ hoàn toàn họ Nguyễn ở Đàng Trong.

Ảnh: Minh họa
Năm 1786, Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc và và tiếp diễn nhanh lẹ đè bẹp quân Trịnh với chiêu bài “phù Lê diệt Trịnh”. Diệt ngừng họ Trịnh, Nguyễn Huệ tới yết kiến vua Hiển Tông. Do sự mối manh của tướng Bắc Hà tham gia hàng Tây Sơn là Nguyễn Hữu Chỉnh, Ngọc Hân vâng mệnh vua phụ vương kết hôn cùng Nguyễn Huệ. Khi đó bà mới 16 tuổi, còn Nguyễn Huệ 33 tuổi.
Lễ cưới được công ty linh đình tham gia ngày 11 04 tuần 7 năm Bính Ngọ (tức 4/8/1786 Dương lịch). Mối tình của Ngọc Hân và Quang Trung ban đầu chỉ là sự sắp đặt theo mưu đồ chính trị của Nguyễn Hữu Chỉnh và hoàng gia nhà Lê nhằm tạo một sự ràng buộc bằng tình cảm giữa Nguyễn Huệ với nhà Lê.

Công chúa Ngọc Hân và vua Quang Trung (Lý Hùng và Thùy Lâm thủ vai) trong phim Tây Sơn anh tài.
Dĩ nhiên, sau đó, cuộc tình này lại biến thành một thiên tình sử đẹp. Khi Nguyễn Huệ xưng Quang đãng Trung hoàng đế để tiến ra Bắc tấn công quân Thanh đã phong Ngọc Hân khiến Bắc cung Cung phi. Đến khi nhà vua đại phá quân Thanh, giữa không khí thành công tưng bừng vẫn không quên cho người mang một cành đào cấp tốc đưa về Phú Xuân cho Ngọc Hân. Khác biệt nhất, khi vua Quang quẻ Trung mất, Ngọc Hân đã viết nên thành quả “Khách hàng nào Tư Vãn” bất hủ để khóc Quang quẻ Trung làm cho mối tình của họ đi tham gia văn chương.
Theo Chu Quang đãng Trứ trong “Danh nhân Lê Ngọc Hân”, Lê Ngọc Hân đưa con ra khỏi cung điện Phú Xuân, sống trong chùa Kim Tiền (Dương Xuân ở Huế) cạnh điện Đan Dương để thờ chồng nuôi con. Bà gượng gập sống đến ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4 bốn tuần 12 năm 1799) thì mất, lúc đó mới 29 tuổi.
4. Lý Chiêu Hoàng
Lý Chiêu Hoàng sinh năm Mậu Dần (1218), là con gái vua Lý Huệ Tông và phi tần Trằn Thị Dung. Khi bà chào đời, nhà Lý (1010-1225) đã tham gia công đoạn suy tàn. Ông nội của bà, tức Lý Cao Tông được biết tới là ông vua “chơi bời vô độ, chính sự hình pháp lấp lửng, giặc cướp nổi lên như ong, đói kém liền năm” nên cơ nghiệp nhà Lý trong khoảng đấy suy.
Tới đời Lý Huệ Tông nước nhà càng bi thương hơn. Sử viết: “Bấy giờ kế thừa thanh bình đã lâu ngày, giường mối dần bỏ, dân không biết việc binh, giặc cướp nổi lên không ngăn cấm được. Vua mới lên ngôi, đem việc nước ủy quyền Thái uý Đàm Dĩ Mông. Dĩ Mông là người không có học thức, không có mưu thuật, lại nhu nhược không quyết đoán, chính sự càng ngày càng đổ nát“.
Huệ Tông vào cuối đời thường hay rượu chè, lâm bệnh tất cả điên loạn, không thể đảm nhiệm nổi việc triều chính. 04 tuần 10 năm Giáp Thân (1224) Điện tiền lãnh đạo sứ Nai lưng Thủ Độ (anh họ Trần Thị Dung) – người nắm quyền lực lớn nhất trong triều đình thời bấy giờ – đã buộc vua xuống chiếu lập Chiêu Thánh khiến cho Hoàng Thái tử, nhường nhịn ngôi cho cô công chúa mới 6 tuổi, niên hiệu là Thiên Chương Hữu Đạo. Trong khoảng đây sóng gió đã phủ lên cuộc thế vị nữ hoàng bé dại này.

Năm 1225, Trần Thủ Độ đàm phán cho cháu của bản thân mình là Trằn Cảnh (vua È cổ Thái Tông sau này) vào cung hầu hạ Chiêu Hoàng. Trần Cảnh được Chiêu Hoàng thân cận, yêu thích, hay trêu đùa. Trần Thủ Độ lấy thời điểm đó dựng nên cuộc hôn nhân giữa Lý Chiêu Hoàng và Trằn Cảnh rồi chuyển giao triều chính bằng bí quyết để Lý Chiêu Hoàng nhường nhịn (bản chất là ép) ngôi cho chồng.
Tháng 11 năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng xuống chiếu nhịn nhường ngôi cho Nai lưng Cảnh. Một 04 tuần sau, triều đình tạo dựng hội lớn ở điện Thiên An, Chiêu Hoàng ngự trên sập báu, các quan mặc triều phục vào chầu, lạy ở dưới sân. Chiêu Hoàng trút bỏ áo ngự mời Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế và biến thành vị vua trước tiên của nhà Trần.
Phi tần đau gầy liên hồi suốt 5 năm. Lúc này Trằn Thủ Độ và mẹ ruột của bà là Nai lưng Thị Dung (đã lấy È cổ Thủ Độ và được gọi là công chúa Thiên Cực), lại bàn mưu phải giữ được ngai báu cho dòng họ nhà Trằn nên đã ép Trần Cảnh lấy Thuận Thiên công chúa (lúc này đang là vợ của Trần Liễu, anh trai của nhà vua) và giáng Chiêu Thánh xuống làm công chúa.

Ảnh: Minh họa
Quá ảm đạm và chán nản, Chiêu Thánh xuất gia đi tu. Đầu năm 1278, bà về thăm quê Cũ kĩ Pháp (Bắc Ninh). 04 tuần 3 âm lịch năm đó, bà mất, thọ 61 tuổi. Tục truyền khi tạ thế, tóc bà vẫn đen nhánh, môi vẫn đỏ như son, má vẫn tươi như hoa đà. Bà được táng ở bìa rừng Báng, phía tây Thọ Lăng Thiên Đức.
Bà được dương thế sau lập đền thờ, gọi là Long miếu (đền Rồng). Sở dĩ Chiêu Hoàng không được thờ phổ biến tại đền Đô mà phải thờ riêng vì bà là người bị xem là có tội với dòng họ Lý khi để mất nhà Lý. Đền thờ của bà bây giờ tại Đình Bảng, thị phường Từ Sơn, (tỉnh giấc Bắc Ninh), còn gọi là Đền Rồng.
Từ khi xuất hiện cho tới khi tạm biệt cõi đời, với bao biến cố đã khiến bà trở thành một người có số mệnh lạ lùng nhất trong lịch sử phong kiến vietnam với 7 lần ở những danh vị không giống nhau: Công chúa triều Lý, Hoàng Thái tử nhà Lý, Nữ Hoàng đế nhà Lý, Vợ nhà È, Công chúa nhà È cổ, Sư cô (thời È cổ) và Phu nhân tướng quân nhà Nai lưng.
ST
Đọc thêm:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét